Trang chủ
Skip portletPortlet Menu
 
Du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
Điều kiện tự nhiên (26/05/2011 07:31 AM)

1. Điều kiện tự nhiên


Huyện Yên Thành nằm ở phía đông bắc tỉnh Nghệ An, trong tọa độ 18055’ đến 190 12’ vĩ độ bắc và từ 105011’ đến 105034’ kinh độ đông. Phía bắc giáp huyện Diễn Châu và huyện Quỳnh Lưu, phía nam giáp huyện Đô Lương và huyện Nghi Lộc; phía đông giáp huyện Diễn Châu; phía tây giáp huyện Nghĩa Đàn và huyện Tân Kỳ.



Hiện nay, Yên Thành có tổng diện tích tự nhiên là 54.571,67 ha, trong đó, đất nông nghiệp là 42.254,79 ha, đất phi nông nghiệp là 9.605,09 ha, đất chưa sử dụng là 2.711,79 ha.


Về địa hình, huyện Yên Thành tựa hình lòng chảo, ba phía bắc, tây, nam là rừng núi và đồi thấp, ở giữa và phía đông là vùng trũng tiếp giáp với huyện Diễn Châu; với chiều dài gần 40 km từ bắc xuống nam, chiều rộng gần 35 km từ đông sang tây. Nơi gần bờ biển nhất là xã Đô Thành (6km). Đỉnh Vàng Tâm với độ cao 544 m, là ngọn núi cao nhất huyện nằm ở phía bắc xã Lăng Thành. Nơi thấp nhất là cánh đồng trũng dọc kênh Biên Hòa, xã Vĩnh Thành, cao 0,2 m so với mực nước biển. Phía bắc huyện là dãy núi Bồ Bồ, phía tây và tây nam là đồi núi có các thung lũng, hang động tạo nên nhiều cảnh quan đẹp.


Từ thế kỷ X trở về trước, vùng đồng trũng huyện Yên Thành thường bị ngập nước. Từ thời Tiền Lê, thời Lý, công cuộc di dân, khai hoang được đẩy mạnh đã tạo lập nên những hương ấp, làng xóm. Đặc biệt, từ thời Trần, vùng biên viễn xưa kia đã trở thành những cánh đồng trù phú, là vựa lúa của vùng, đồng thời cũng là nơi tập trung đông đảo các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Hệ thống sông ở Yên Thành không nhiều và không có con sông nào lớn, hầu hết là các con sông ngắn và nhỏ. Sông Dinh bắt nguồn từ động Trọc (xã Quang Thành cũ) theo khe Cấy và một nhành từ các làng Đồng Trổ, Đồng Mai theo khe Vằng, hợp lưu với nhau chảy qua xã Tràng Thành sang các làng Long Hồi, Tích Phúc xuống sông Điển. Sông Dền bắt nguồn từ động Huyệt chảy qua xã Phúc Thành, Kẻ Dền đổ xuống sông Sọt. Bàu Sừng bắt nguồn từ động Mồng Gà chảy về các làng Quỳ Lăng, Yên Mã, Thành Đạt, Tiên Bồng đổ xuống sông sở. Khe Nhà Trò, khe Mã Tổ bắt nguồn từ hòn Câu, hòn Sường chảy về các làng Phúc Lộc, Phúc Trạch, Thọ Trường, Lạc Thổ. Ở phía nam, do đồi núi trọc nên không có nguồn ánh sinh thủy chảy đều, chỉ có một số khe và bàu như khe Ngọng. bàu Mậu Long, bàu Chèn, bàu Liên Trì chảy về sông Vũ Giang rồi xuống sông Điển. Khe Cát chảy qua các làng Tràng Sơn, Lương Hội về sông Điển. Sông Điển chảy qua các xã Khánh Thành, Long Thành, Vĩnh Thành hợp lưu với cột Sọt, chảy về sông Bùng ra Lạch Vạn.


Hệ thống nông giang Bắc Nghệ An được khảo sát từ nằm 1927 và tiến hành xây dựng trong những năm 1932 – 1937, đã đưa sông lam từ Bara Đô Lương về tưới cho phần lớn diện tích đồng bằng huyện Yên Thành.


Từ năm 1960 đến nay, đặc biệt là trong những năm kháng chiến chống Mỹ, huyện Yên Thành đã xây dựng được gần 200 hồ đập lớn, vừa và nhỏ để tưới cho vùng cao, chống úng cho vùng sâu, tưới khoa học cho vùng giữa thành ruộng thâm canh hai, ba vụ.

Yên Thành nằm trong vùng tiểu khí hậu Bắc Trung Bộ. Mùa hè, gió Tây Nam thổi mạnh, không khí nóng nực, nhưng khi có gió Đông Nam (gió Nồm) đưa hơi nước biển lên thì mát mẻ dễ chịu. Mùa thu thường phải chống chọi với những cơn bão lớn. Mùa đông có gió Đông Bắc, mưa dầm kéo dài.

Về giao thông, hiện nay, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện tương đối phát triển. Quốc lộ 7, đoạn đi qua huyện từ xã Vĩnh Thành đến xã Mỹ Thành dài 18 km; tỉnh lộ 538, đoạn đi qua huyện từ xã Hợp Thành về xã Công Thành dài 15 km; tỉnh lộ 534, đoạn đi qua huyện từ xã Sơn Thành đến thị trấn dài  14km; đường Dinh – Lạt từ xã Nhân Thành đi xã Tây Thành dài 21 km. Ngoài ra, còn có 23 tuyến đường liên xã, liên xóm đều đã được đỗ nhựa hoặc bê tông đến từng gia đình. Xe cơ giới đi lại tương đối thuận lợi.


 2. Địa lý hành chính


Huyện Yên Thành là vùng đất cổ đã có hàng nghìn năm lịch sử. Thuở các vua Hùng dựng nước, Yên Thành thuộc bộ Việt Thường (Việt Thường là một trong 15 bộ của nước Văn Lang).


Thời Bắc thuộc, Yên Thành được gọi là huyện Hàm Hoan, thuộc quận Cửu Chân đời Triệu, quận Cửu Đức đời Ngô, quận Đức Châu đời Lương, quận Nhật Nam đời Tùy, châu Nam Đức, Đức Châu rồi Hoan Châu đời Đường.


Năm Trinh Quán thứ nhất (627) đời Đường, Hoan Châu được chia thành Diễn Châu và Hoan Châu. Lỵ sở của Diễn Châu đóng ở làng Kẻ Sừng, xã Quỳ Lăng.

Buổi đầu thời kỳ độc lập, nhà Khúc (905 – 907), nhà Ngô (936-965) , vùng Quỳ Lăng vẵn là trung tâm của Châu Diễn.


Thời Tiền Lê, sau khi lên làm vua, Lê Đại Hành đã phong cho hoàng tử Lê Long Toàn làm Đông Thành Vương và cử Long Toàn vào trấn trị Châu Diễm. Sau 15 năm làm Tri Châu và bảy năm xưng vua Ngân Tích Vương mà nhân dân thường gọi là vua Dền, Lê Long Toàn đã lấy vùng kẻ Dền – Công Trung – Tràng Thành làm Lỵ sở, xây dựng nơi đây thành trung tâm kinh tế, quân sự của Châu Diễn. Tên Đông Thành có từ thời Tiền Lê.


Thời nhà Trần, Yên Thành được gọi là Trấn Vọng Giang, là huyện Thổ Thành (thành đất). Thời nhà Hồ gọi phủ Linh Nguyên. Thời thuộc minh gọi là huyện Đông Ngàn. Thời nhà Lê đến đầu đời Nguyễn gọi là huyện Đông Thành của phủ Diễn Châu.


Tên huyện Yên thành ( một số tài liệu chép là huyện An Thành) được dựng đặt từ năm Minh Mệnh thứ 10 (1829). Tám năm sau, đến năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), chính thức cắt năm tổng Hoàng Trường, Vạn Phần, Thái Trạch, Quan Triều và Cự Lâm lập huyện Yên Thành. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) tách tổng Cự Lâm về huyện Nghĩa Đường (tức huyện Nghĩa Đàn).


Năm Thành Thái thứ 10 (1898), chia lại thành hai huyện Yên Thành và Đông Thành. Huyện Yên Thành ở phía Tây, gồm các tổng Quỳ Trạch (tức tổng Thái Trạch), Quan Hóa (tức tổng Quan Triều), Vân Tụ (tức tổng Vân Lôi), Quan Trung và Vân Hội. Lỵ sở huyện Yên Thành chuyển về làng Phụng Luật (nay thuộc xã Hợp Thành).


Từ năm 1898 đến năm 1945, huyện Yên Thành có 5 tổng, 136 làng xã. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cắt các làng Xuân Lạc (Kẻ Năn), Phượng Kỷ (Kẻ Mưng), Yên Lương, Mỹ Hòa, Trịnh Sơn về huyện Anh Sơn; cắt các làng Trị Nội, Hội Yên về huyện Nghi Lộc.Sau năm 1955, cắt làng Cận Nghĩa Môn về huyện Quỳnh Lưu.


Hiện nay, huyện Yên Thành có 1 thị trấn và 38 xã.

 |  Đầu trang