Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa - Du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
Truyền thống văn hóa của nhân dân Yên Thành (18/05/2011 02:03 PM)

Yên Thành là một vùng quê nông nghiệp trồng lúa nước, có truyền thống lịch sử lâu đời, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Suốt mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân nước ta nói chung và nhân dân huyện Yên Thành nói riêng vừa phải lao động sản xuất, vừa phải chiến đấu để bảo vệ quê hương, đất nước. Điều đó đã tạo nên truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động ; kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu...

Yên Thành là một vùng quê nông nghiệp trồng lúa nước, có truyền thống lịch sử lâu đời, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Suốt mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân nước ta nói chung và nhân dân huyện Yên Thành nói riêng vừa phải lao động sản xuất, vừa phải chiến đấu để bảo vệ quê hương, đất nước. Điều đó đã tạo nên truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động ; kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu; tinh thần đoàn kết, “thương người như thể thương thân”, gia đình gắn với họ hàng, họ hàng gắn với làng nước; truyền thống tôn sự trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên, ông bà, tôn trọng con người. 

 Đặc biệt, khi nói đến Yên Thành, người ta thường nhấn mạnh truyền thống hiếu học và học giỏi. Trong tác phẩm Diễn Châu – Đông Thành huyện thông chí, thám hoa Phan Thúc Trực đã viết: “An Thành thế đất bằng phẳng, tục dân thuần tú, văn học khoa bảng đứng đầu một phủ”.

 Những người nông dân Yên Thành không chỉ từng thuần hóa, giữ gìn những giống lúa quý như lúa chăm, lúa hẻo, đặc biệt là lúa nếp rồng thơm ngon nổi tiếng, mà còn là những người chuộng đạo học, nêu cao truyền thống khổ học, hiếu học và học giỏi. Thưở Hán học còn thịnh đạt, làng xã nào cũng giành một phần ruộng đất làm học điền, nhiều làng xây dựng văn miếu, thành lập hội tư văn, hội đồng môn để tôn vinh đạo học. Dù giàu hay nghèo nhưng nhà nào cũng cố gắng nuôi dưỡng cho con cháu “học dăm ba chữ để làm người”, cho nên, đất học Yên Thành có những gia đình và những dòng họ liên tiếp có người đỗ đạt cao.

 Người mở đầu cho truyền thống khoa bảng huyện Yên Thành và cả xứ Nghệ là Trạng Nguyên Bạch Liêu. Ông quê gốc ở làng Trúc Hạ, xã Thanh Đà (nay là xã Mã Thành). Khi đi thi, ông dời cư đến Quảng Động, xã Nguyên Xá (lúc bấy giờ xã Nguyên Xá bao gồm các làng Viên Minh, Hậu Luật, Vân Nam, Bảo Cứ, An Duệ, Xã Hội, Trầm Nội, Bảo Nham, Tiên Hồ). Bạch Liêu đỗ Trạng nguyên khoa thi Bính Dần, năm Thiệu Long thứ chín (1266) đời vua Trần Thánh Tông. Từ đó về sau, theo các tài liệu đăng khoa lục thì huyện Yên Thành có 22 vị đỗ đại khoa, trong đó có 4 vị trạng nguyên (cả Nghệ An có 6 vị trạng nguyên), 3 vị thám hoa, 3 vị hoàng giáp, 7 vị tiến sĩ, 4 vị phó bảng. Tổng Quỳ Trạch có 4 vị trạng nguyên, 2 hoàng giáp, 4 tiến sĩ, 20 cử nhân, 192 tú tài. Làng Tam Thọ (nay thuộc xã Thọ Thành) có 3 trạng nguyên, 1 tiến sĩ, 1 cử nhân, hàng chục hiệu sinh, tú tài. Ở Tràng Thành có 2 thám hoa, 1 hoành từ (tiến sĩ), 21 cử nhân, 81 tú tài. Họ Hồ ở làng Tam Thọ có ba thế hệ nối tiếp nhau là Hồ Tông Thốc, Hồ Tông Đốn, Hồ Tông Thành (tam đại đồng khoa) đều đỗ Trạng nguyên.Họ Lê ở trại Tràng Sơn (nay thuộc xã Sơn Thành) có ba cha con ông cháu đều đổ cao: Lê Kính đỗ Tiến sĩ, Lê Hiệu đỗ Hoàng Giáp làm Thượng thư cùng triều, Lê Mai đỗ Giải nguyên. Riêng Lê Hiệu được cử đi sứ sang Trung Quốc có tài văn thơ đối đáp với sứ thần các nước và vua quan nước sở tại, nên được phong “Lưỡng quốc Tể tướng”. Họ Hồ ở làng Tam Thọ, họ Phan Tất, họ Phan Mạc ở Tràng Thành liên tiếp bảy đến tám đời có người đỗ đạt.

 Nhiều người trong số những vị đại khoa, trung khoa đã đem tài năng giúp nước, có công trong việc xây dựng đất nước, trở thành những nhà văn hóa để lại nhiều trước tác có giá trị.

 Trạng nguyên Bạch Liêu với kế sách Biến Pháp tam chương giúp nhà Trần xây dựng Hoan Diễn trở thành thắng địa, nơi cung cấp sức người, sức của cho ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông.

 Trạng nguyên Hồ Tông Thốc là nhà văn hóa lớn có tài năng nhiều mặt về văn, thơ, lịch sử với những trước tác: Thảo nhàn hiệu tần thi tập, Đại Nam đế chí, Việt sử thông giám cương mục.

 Thám hoa Phan Túc Trực đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, nêu gương “học cao hạnh thuần”, được xem là bậc khôi đa sư để lại các trước tác: Việt Nam thế chí, Diễn Châu phủ chí, Diễn Châu – Đông Thành huyện thông chí, Cẩm đình thế tập.

 Tiến sĩ Trần Đình Phong, làm Tế tửu Quốc tử giám đã trực tiếp đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Ông còn tổ chức biên soạn tập Đông Yên nhị huyện khoa phổ và trực tiếp biên soạn Thanh Khê xã chí, Quỳ Trạch đăng khoa lục.

 Cử nhân Trần Cần (làng Vĩnh Tuy), tú tài Phan Tuấn Triết, cử nhân Lê Liễu (xã Giai Lạc), nhà thơ Nguyễn Thế Mỹ (làng Nhạn Tháp) ... đã để lại nhiều áng văn thơ chan chứa tình yêu quê hương, đất nước.

 Và khi đất nước đứng trước họa xâm lăng, với tấm lòng yêu nước thương dân, những nhà nho, những bậc khoa bảng sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn, cùng nhân dân đánh đuổi quân xâm lược như Trạng Nguyên Bạch Liêu, Phó bảng Lê Doãn Nhã, các cử nhân Chu Trạc, Lê Liễu ...

Đất học Yên Thành còn sản sinh ra những thầy đồ hay chữ, sống có tiết tháo, bổ sung vào đội ngũ những thầy đồ Nghệ mở trường dạy học tại quê hay ở những địa phương khác.

 Truyền thống hiếu học, khổ học và học giỏi của nhân dân huyện Yên Thành được nuôi dưỡng và phát huy trở thành một dòng chảy lịch sử, nối tiếp cho đến thời kỳ tân học, học chữ quốc ngữ và chữ Pháp, đã sản sinh ra một lớp tri thức tân học, kịp tiếp thu những “Tân thư” của các nhà chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và những tài liệu sách báo của Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài chuyển về đã trở thành những hạt giống đỏ, góp phần truyền bá “Đường cách mệnh” vào phong trào yêu nước của nhân dân huyện Yên Thành những năm 1925 – 1930.

 2. Truyền thống yêu nước và cách mạng

 Bên cạnh truyền thống hiếu học, Yên Thành còn là mảnh đất của những con người giàu lòng yêu nước và cách mạng. Trong lịch sử nước ta hàng nghìn năm nay, Yên Thành là vùng đất hiểm yếu, nằm trong vùng địa bàn chiến lược của đất Hoan Diễm xưa. Nghệ An ngày nay, nơi được xem là “thắng địa”, là “thành đồng ao nóng của cả nước”, là “phên dậu then khóa của các triều đại”. Nhà yêu nước Lê Doãn Nhã đã viết nên những vần thơ cảm khái:

                                    “Nhớ thời núi tụ anh linh

Quy Lai giáo dựng, Động Đình gươm reo

Trời chiều nổi áng cờ treo

Nhớ ơn tằng tổ hiểm nghèo xông pha”.

 Trên mảnh đất này, mỗi ngọn núi, khúc sông, mỗi cánh đồng, mỗi làng xã, trang, sách, sở, trại đều ghi dấu những chứng tích, dấu vết lịch sử của cha ông. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà từ năm 627, các vị kinh lược sứ, thứ sứ chọn Kẻ Sừng, Quỳ Lăng làm lỵ sở của Châu Diễn. Nơi đây tự lưng vào vùng rừng núi, nhìn ra đồng bằng, nằm trên thượng đạo từ Nam ra Bắc, thế tiến công và phòng thủ đều thuận lợi. Đến thời kỳ nước ta giành được quyền tự chủ, từ thời Tiền Lê, nhân dân Đông Thành đã giúp đỡ vua Dền – Lê Long Toàn vừa xây dựng vừa chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ cả vùng biên viễn phía Nam của nước Đại Việt. Tiếng tăm của vua Dền đã vang vọng đến tận Kinh đô qua câu thơ của Tú tài Phan Tuấn Triết:

                                    “Lên Kim Nhan còn nức tiếng vua Dền

Núi Bờ đó còn dấu chân ông Khổng”.

 Thời nhà Lý, nhân vật Yên Thành đã giúp Uy Minh Vương Lý Nhật Quang xây dựng nhiều trang ấp, đồn trại, kho lương. Nhiều tráng đinh các làng gia nhập nghĩa quân của Lý Giác lấy vùng Công Trung, Tràng Thành làm căn cứ chống lại ách áp bức bóc lột của triều đình.

 Sang đời Trần với ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông, nhân dân huyện Yên Thành đã giúp Trần Quốc Khang xây dựng thành Dền, khai phá đất đai, lập nhiều vệ sở, làng xã, cung cấp sức người, sức của cho các vị tướng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật chặn đứng đội quân xâm lược từ phía Nam ra. Sử sách còn ghi lại chiến tích và công lao của hai nhân vật kiệt xuất của huyện Yên Thành, đó là Trạng nguyên Bạch Liêu và danh nhân Hoàng Tá Thốn.

 Bạch Liêu, còn có tên là Bạch Đồng Liêu, sau khi đỗ Trạng Nguyên đã không ra làm quan mà mở trường dạy học. Nhưng khi đất nước bị giặc Nguyên Mông xâm lược, ông đã hưởng ứng lời kêu gọi của vua Trần, tình nguyện làm mưu sĩ quan trọng cho Thượng tướng Trần Quang Khải và đã dâng kế sách Biến pháp tam chương để khai khẩn đất hoang, nuôi dưỡng sức dân, xây dựng nhiều kho lương, đồn trại từ Đông Thành vào chân đèo Ngang, từ đó luyện quân, tuyển quân, biến vùng đất Hoan Diễn thành hậu phương chiến lược cung cấp đội quân tinh nhuệ và thóc gạo cho kháng chiến.

 Hoàng Tá Thốn, còn có tên là Hoàng Đại Liêu, quê gốc ở Vạn Phần (nay thuộc Diễn Vạn, huyện Diễn Châu) lên định cư ở làng Vạn Tràng (nay thuộc xã Long Thành), là người có sức khỏe và tài võ nghệ, đặc biệt là tài bơi lặn giỏi được Trần Hưng Đạo tin dùng, nhiều lần đục thủng thuyền giặc, có công lớn trong nhiều trận thủy chiến với giặc Nguyên. Vua Trần phong ông là “Sát hải đại vương tướng quân”. Nhân dân Yên Thành lập đền thờ Hoàng Tá Thốn ở làng Vạn Tràng (nay thuộc xã Long Thành) và ở đến Đức Hoàng (nay thuộc xã Phúc Thành) ...

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XV, theo kế hoạch của tướng Nguyễn Chích, Lê Lợi từ căn cứ Lam Sơn kéo quân vào Nghệ An “để làm chổ dựa đứng chân rồi dựa vào đấy để lấy nhân lực, tài lực, sau quay ra Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”.

 Từ làng Trang Niên (nay thuộc xã Mỹ Thành), Nguyễn Vĩnh Lộc cùng 19 dân binh gia nhập nghĩa quân. Tại xã Vân Tụ, bốn anh em Nguyễn Thế Bồng, Nguyễn Thế Bình, Nguyễn Thế Tài, Nguyễn Trung Lao (sau đổi tên là Đào Trung Lao) sung vào nghĩa quân và được cử giữ chức Đoàn luyện đô ti sứ.

 Khi Bình Định Vương Lê Lợi cử Đinh Lễ về vùng núi phía tây huyện Yên Thành xây dựng thành Động Đình ở sách Quy Lai, tổ chức tuyển thêm quân lính, luyện tập binh mã, sắm sửa vũ khí ..., trai tráng các làng đã nô nức gia nhập nghĩa quân. Từ căn cứ Động Đình, nghĩa quân Đinh Lễ đã kéo xuống bao vây thành Diễn Châu đánh quân tăng viện và đã thắng lớn. Trong những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Lam Sơn trên đất Nghệ An như trận Bồ Đằng, Trà Lân, Lam Thành, Diễn Châu ..., Nguyễn Vĩnh Lộc đã hiến nhiều kế hay giết giặc, ông được Lê Lợi ba quốc tính từ họ Nguyễn được mang họ Lê, tức Lê Lộc.

 Ở làng Tiên Thành (nay thuộc xã Bắc Thành), Phan Vân cũng đem lương thảo ủng hộ nghĩa quân. Trai tráng, nhân dân nhiều làng xã ở huyện Yên Thành đã rào làng chiến đấu, dùng làng để giữ nước, góp phần xứng đáng vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh.

 Trong cuộc nội chiến Lê – Mạc (từ thời Nam – Bắc triều) kéo dài 60 năm (1533 -1592) và hỗn chiến Trịnh – Nguyễn từ năm 1627 đến năm 1672, chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài triền miên hơn 200 năm, có khi chiến trận xảy ra trên đất Yên Thành như ở các làng Vĩnh Tuy, Hào Kiệt, có khi diễn ra ở ven sông Lam, ở Thanh Hóa ..., nhưng con em huyện Yên Thành phải làm lao dịch, binh dịch, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, nhân dân phải đóng góp thuế khóa nặng nề, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. “Các huyện ở Nghệ An đồng ruộng bị bỏ hoang, không thu được hạt thóc nào, dân đói to, lại bị bệnh dịch chết đến quá nữa, nhiều người phiêu bạt ..., trong hạt tiêu điều”.

 Trong hoàn cảnh đói nghèo, cơ cực như thế, nhân dân Yên Thành đã liên tục vùng lên hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa nông dân.Và khi phong trào Tây Sơn nỗi lên, đặc biệt là khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ hai, trên đường từ Nam Đàn qua Truông Hến ra Yên Thành, nhân dân huyện Yên Thành đã đem thóc gạo ủng hộ nghĩa quân, cứ ba suất dinh có một người tòng quân, chiến đấu dũng cảm, lập công giết giặc như Nguyễn Hữu Có (xã Kim Thành), Phan Duy Nậm (xã Tràng Thành) ...

 Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng giặc nhưng nhân dân cả nước, trong đó có nhân dân huyện Yên Thành liên tiếp nỗi dậy chống Pháp. Trong những năm chống Pháp trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có hai sự kiện lớn diễn ra trên đất Yên Thành đó là cuộc khởi nghĩa Cần Vương, thường gọi là khởi nghĩa Đồng Thông – Vũ Kỳ và những hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa của Chu Trạc ở Tràng Thành.

 Hưởng ứng Chiếu Cần Vương của Hàm Nghi, cuối năm 1875, tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, người làng Cồn Sắt (nay thuộc xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu) cùng Phó bảng Lê Doãn Nhã, người làng Tràng Sơn (nay thuộc xã Sơn Thành) tập hợp các sĩ phu yêu nước cùng đông đảo nghĩa binh ở các huyện Yên Thành, Diễn Châu, Anh Sơn làm lễ tế cờ, phát động cuộc khởi nghĩa đánh Pháp. Nghĩa quân đã lấy vùng núi phía tây Yên Thành làm đại bản doanh, trong đó có căn cứ Đồng Thông – Vũ Kỳ. Tập hợp dưới ngọn cờ Cần Vương của Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, có nhiều tráng đinh từ các lò vật ở các làng xã, tiêu biểu là Tác Bảy – Nguyễn Văn Ngợi, Độc Nhoạn, Đội Vinh ... Từ căn cứ Đồng Thông – Vũ Kỳ, nghĩa quân mở rộng hoạt động, tổ chức nhiều trận đánh địch ở Đồn Sy, Đồng Mờm, Thừa Sủng, Bảo Nham, Vĩnh Tuy, xóm Hố, Đồng Thông, đặc biệt là trận thắng lớn ở Tràng Thành vào tháng 5-1885, diệt hơn 500 tên giặc. Nhân dân nhiều làng xã đã tự tổ chức nghĩa binh, rào làng chiến đấu, góp lương thực vật dụng bằng kim loại, mở lò rèn vũ khí ủng hộ nghĩa quân. Ở làng Xuân Đào, hàng chục nghĩa quân đã thành lập đội quân Xuân Nghĩa Hội. Dưới sự chỉ huy ông Vương Thức, đội nghĩa binh làng Xuân Đào đã tề tựu dưới cờ khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã. Khi thực dân Pháp và binh lính triều đình đàn áp, chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn bị địch bắt, Lê Doãn Nhã và những lực lượng còn lại của nghĩa quân liên lạc với Phan Đình Phùng tiếp tục chiến đấu.

 Tô Bá Ngọc, người làng Đông Yên (nay thuộc xã Minh Thành), là một điền chủ giàu có, giàu lòng từ thiện, thường giúp đỡ người nghèo khó. Hưởng ứng phong trào Cần Vương, ông đã ủng hộ nhiều lương thực, tiền bạc và làm Đốc vận quân lương nghĩa quân Lê Doãn Nhã. Tháng 3 -1887, Phan Đình Phùng trên đường ra bắc, dừng chân tại nhà Tô Bá Ngọc để trao đổi với bộ tham mưu của nghĩa quân Lê Doãn Nhã về hợp đồng tổ chức những trận đánh lớn vào huyện Diễn Châu, “chia lửa” với cuộc khởi nghĩa Vũ Quang, liên kết các cuộc khởi nghĩa thành một phong trào rộng lớn ở Nghệ Tĩnh. Cả gia đình Tô Bá Ngọc và dân làng Đông Yên tạo điều kiện cho cuộc hội kiến thành công. Về sau, khởi nghĩa Cần Vương bị đàn áp, Tô Bá Ngọc bị giặc xử bắn tại quê nhà.

 Chu Trạc, sinh năm 1849 trong một gia đình nông dân yêu nước. Ông là nguời có nghĩa khí, có sức khỏe và tài võ nghệ. Năm 30 tuổi, ông thi đỗ Võ cử (cử nhân võ) ở trường thi Thanh Hóa rồi vào Huế học tiếp để chuẩn bị thi Tạo sĩ (tiến sĩ võ). Năm Ất Dậu, vua Hàm Nghi xuất bôn, kinh thành hữu sự, ông bỏ về quê mở cửa hàng buôn bán nông thổ sản, cắt thuốc nam, thuốc bắc ở chợ Dinh vừa kiếm sống vừa làm địa điểm liên lạc với Phán Ám xã trong Hội Duy Tân và Quang Phúc hội của Phan Bội Châu. Ông cùng với cử nhân Hồ Xuân Trang (huyện Quỳnh Lưu) tìm đường ra bắc liên hệ với Hoàng Hoa Thám và được Đề Thám giao nhiệm vụ tuyển mộ người, gây quỹ, sắm sửa võ khí, chuẩn bị lương thực. Chu Trạc đã vận động được nhiều thanh niên yêu nước ở Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Thanh Chương, Yên Thành vào “nghĩa đảng” và đã sắm sửa được một số vũ khí. Khi hay tin phong trào chống thuế Trung Kỳ lan ra phủ thành Hà Tĩnh, đêm 26 – 2- 1908, Chu Trạc làm lễ tế cờ ở xóm Nương Che và phát hịch đánh Pháp:

                                 “Ai là khách anh hùng xin hãy chung lưng đấu cật

Nước mất còn chỉ ở lúc ni”.

Sau lễ tế cờ, Chu Trạc phân công Nguyễn Xuân Vĩnh về huyện Diễn Châu, Phan Văn Chớn chỉ huy khoảng 30 người qua Lào mua vũ khí, Hồ Xuân Trang đến huyện Nghi Lộc liên hệ với Đặng Thái Thân, Phạm Văn Ngôn ra Yên Thế liên hệ với Hoàng Hoa Thám ... Nhưng vì sơ hở trong việc lựa chọn nghĩa binh, bị kẻ xấu lọt vào, báo mật thám. Đêm 10-4-1908, trong lúc Chu Trạc đang họp với các cộng sự tại nhà ông thì bị bọn lính vây bắt. Tài liệu của mật thám Pháp gửi Khâm sứ Trung Kỳ (6-1913) viết: “Vụ Chu Đình Trạc là một vụ nỗi loại lớn ở Nghệ An năm 1908 ... Chu Đình Trạc lúc đó là Tổng Tư lệnh quân đội Bắc Trung Kỳ do Đề Thám trao quyền, bị đày đi Côn Đảo”.

 Ý định tổ chức một cuộc bạo động vũ trang của Chu Trạc và những cộng sự của ông không thành nhưng tấm lòng yêu nước sục sôi, chân thành và nghĩa khí của một bậc chân nho dám xả thân vì nước, vì dân đã ghi thêm một trang sử vẻ vang của nhân dân huyện Yên Thành.

 Trên điều kiện tự nhiên của một vùng đất vừa có đồng bằng, vừa có rừng núi, “phía trước kho lương, phía sau rương tiền”, từ năm 627 khi các kinh lược sứ chọn Quỳ Lăng làm lỵ sở Châu Diễn cho đến đầu thế kỷ XX, trải qua gần 15 thế kỷ, nhân dân huyện Yên Thành vừa đổ mồ hôi, nước mắt để lao động xây dựng quê hương, vừa cùng nhân dân trong tỉnh Nghệ An đổ bao xương máu để chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước. Lịch sử dựng nước và giữ nước đã hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp: cần cù, sáng tạo trong lao động, yêu thương, đoàn kết, dũng cảm trong đấu tranh và khi cần không tiếc xương máu để bảo vệ Tổ quốc; ham học, hiếu học, trọng đạo học, trọng đạo lý làm người; sống tình nghĩa, tin tưởng vào sức mạnh của chính mình và của lớp người kế tục.

 Những truyền thống tốt đẹp ấy sẽ tạo điều kiện về kinh tế - xã hội để khi có ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và “Đường cách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc thâm nhập vào, sẽ trở thành sức mạnh to lớn để nhân dân huyện Yên Thành vươn lên hòa chung với các phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

 

 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu