Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đất nước
ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ dưới ách đô hộ của thực dân Pháp biến nước
ta thành nước thuộc địa nửa phong kiến và dùng mọi thủ đoạn thâm độc khai thác
tài nguyên, bóc lột dã man của cải và sức lao động của nhân dân ta để làm giàu
cho chính quốc. Nhân dân ta đã đứng dậy tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chống lại
thực dân Pháp và bè lũ tay sai, nhưng đều thất bại. Nhiều chí sỹ yêu nước như
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã đi tìm đường cứu nước nhưng vẫn chưa tìm ra được
con đường thực sự hiệu quả.
Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên
trong một gia đình nhà nho yêu nước, ở một làng quê giàu truyền thống lịch sử,
văn hóa và cách mạng; chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, người thanh niên yêu nước
Nguyễn Tất Thành vừa tròn 21 tuổi, đã sớm hun đúc ý chí và khát vọng cháy bỏng
giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Ngày 5/6/1911, với tên mới Văn Ba, người thanh
niên Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral La Touche De Tréville, rời bến cảng
Nhà Rồng, khởi đầu cho hành trình tìm đường cứu nước. Người quyết định sang
phương Tây để tìm hiểu tận gốc bản chất của chủ nghĩa thực dân, quê hương của
các cuộc cách mạng tư sản, để tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ “Tự
do,” “Bình đẳng,” “Bác ái” xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào. Trong
vòng 10 năm, từ năm 1911 đến năm 1920, bàn chân của Người đã in dấu trên nhiều
nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt đã dừng chân lâu ở Mỹ, Anh và
Pháp, hòa mình vào cuộc sống của những người lao động, làm bất cứ việc gì để sống
và hoạt động, như phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh, làm vườn, vẽ thuê... Vừa
làm, Người vừa tranh thủ học tập, nghiên cứu.
Người tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu
năm 1919. Ngày 18/6/1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam
yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Versailles yêu cầu về quyền tự
do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Dù bản yêu sách không được
chấp nhận nhưng được lan truyền rộng rãi, gây tiếng vang lớn trong dư luận nước
Pháp, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của các nước thuộc địa; đồng thời cũng đem
lại cho Người một nhận thức là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa
vào sức của chính mình.
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp lần thứ 18
tổ chức tại thành phố Tours (Pháp), Bác ủng hộ Quốc tế cộng sản 3, tổ chức đứng
về nhân dân thuộc địa và khẳng định với nữ đồng chí Rose: “Tự do cho đồng bào
tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả
những điều tôi hiểu.” Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin,
tìm thấy ở đó ánh sáng chân lý của thời đại, con đường giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng con người. Khi
nhắc lại sự kiện quan trọng đó trong bài viết trên báo Nhân dân ngày 22/4/1960
về thời khắc Người đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin vào giữa tháng 7/1920, Bác viết:
"Luận cương của Lenin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng
biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói
to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ!
Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!"
Người nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, đã
rút ra kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào
khác con đường cách mạng vô sản” và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới
khỏi ách nô lệ." Kết luận này khẳng định sự chuyển biến sâu sắc trong tư
duy của Nguyễn Ái Quốc, từ người yêu nước chân chính trở thành người cộng sản -
người đảng viên cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lênin, Người đã dần xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải
phóng dân tộc phù hợp với thực tiễn Việt Nam, xác định đúng mục tiêu, con đường,
lực lượng tham gia, lực lượng lãnh đạo, cũng như phương pháp cách mạng và tích
cực chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Người,
tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản đã nhất trí
thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự kiện
lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và
về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng khẳng định
tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là cống
hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin
vào việc thành lập một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt
Nam.
Sau 30 năm ở nước ngoài, ngày 28/1/1941,
Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng.
Tháng 5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 quyết định chuyển hướng chiến
lược cách mạng phù hợp với sự thay đổi mau lẹ của tình hình quốc tế và trong nước,
đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tổ chức vận động, tập hợp lực lượng
toàn dân tộc; thành lập Mặt trận Việt Minh; tiến hành xây dựng lực lượng vũ
trang và căn cứ địa, tạo nên các cao trào cách mạng sôi nổi, mạnh mẽ trên phạm
vi cả nước. Vào tháng 8/1945, với tư duy
chính trị cực kỳ nhạy cảm và sắc bén, dự báo chính xác, phân tích kịp thời và
thấu đáo tình hình trong nước và quốc tế, nhận rõ thời cơ cách mạng đã chín muồi,
Người nêu quyết tâm “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết
giành cho kỳ được độc lập dân tộc”, "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là
Lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã gắn kết thành một khối, phát huy cao
độ sức mạnh toàn dân tộc, làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ
chế độ thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Nhà nước
dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một thời đại mới rực rỡ nhất
trong lịch sử quang vinh của dân tộc - Thời đại Hồ Chí Minh. Cách mạng nước ta
đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là
chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu,” giải phóng
hoàn toàn miền Bắc, xây dựng hậu phương lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất
nước nhà; là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc
bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất
đất nước; là thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
của công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.
Trước diễn biến phức tạp của tình hình
thế giới, với những khó khăn ở trong nước, Đảng ta đã kiên định chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng và phát triển sáng tạo vào thực tiễn
đất nước và đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu của
gần 40 năm đổi mới đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng dựa trên nền tảng
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với
thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.